PHỎNG VẤN NHẠC SƯ HẢI LINH
VỀ NHẠC PHẨM HANG BÊ-LEM

Chí Thành:  Nhạc phẩm “Hang Be Lem” của Nhạc sư đã được hát hàng ngàn hàng vạn lần ở những nơi có người Việt khi mùa Giáng Sinh đến.  Xin Nhạc Sư cho biết đôi dòng về bài đó.

Hải Linh:  Đó là bài đầu tiên mà tôi viết vào tháng 11 năm 1945.  Lúc ấy tôi được 25 tuổi và đang dạy học ở trường Thầy Giảng ở Nam Định.

Một hôm tôi đi ngang qua tòa sọan bán nguyệt san Đường Sống ở Nam Định, ông Minh Châu – chủ nhiệm – thấy tôi thường hay hát nên đố tôi làm được một bài để đăng vào báo Đường Sống nhân mùa Giáng Sinh.  Tôi nhận lời và hẹn 3 ngày sau trở lại.

Sau ba ngày tôi đưa bản nhạc “Hang Be Lem” tới tòa sọan và tập sơ qua cho một số anh em trong tòa sọan.  Khi hát lên, mọi người thấy thích quá nên ông Minh Châu mới thương lượng với tôi thế này:  Ông sẽ chịu chi phí cho một người cầm bản nhạc lên Hà Nội để tìm Mạnh Quỳnh và thuê Mạnh Quỳnh khắc vào bản gỗ; rồi sau khi đã in vào 2000 số báo Đường Sống thì ông Minh Châu sẽ cho tôi lại bản gỗ của bản nhạc.  Tôi cũng đồng ý như vậy.

Tôi còn nhớ là lúc ấy tôi đã in ra 500 bản để bám với giá 3 hào hay 3 xu gì đó.  Tôi gửi lên Hà Nội 10 bản.  Một số nhà thờ hát và nhiều người thấy hay nhưng không tìm đâu ra bản nhạc.  Thật tôi là một anh nhà quê, vì đối với thủ đô Hà Nội mà chỉ gửi có 10 bản nhạc !  Một điều rất đặc biệt là cha KIM ĐỊNH đã mua một bản danh dự với giá 100 đồng !  Tôi cũng gửi biếu Đức Cha Phạm Ngọc Chi – lúc ấy còn là linh mục và đang dạy ở trường Lý Đóan Phát Diệm – một bản.

Sau khi bài đầu tiên được hưởng ứng nồng nhiệt, tôi rất lên tinh thần và tôi cứ thong thả viết cho đến năm 1946 tôi đã xuất bản một quyển Ca Vịnh gồm nhiều bài về Đức Mẹ, trong đó có những bài rất phổ biến như:  “Mẹ ơi đóai thương xem nước Việt Nam” – “Giáo dân bao xiết mừng” – “Ngày nay con đến hát khen ...”  (dâng Hoa).

Chí Thành:  Lối Viết của Nhạc Sư rất nhẹ nhàng thanh thóat, giản dị và dễ phổ biến.  Xin Nhạc Sư cho biết đã học nhạc ở đâu ?

Hải Linh:  Lúc ấy chưa có ai dạy tôi về âm nhạc cả.  Khi tôi lên 13 tuổi thì được một linh mục người Tây Ban Nha tên là Rangel (Việt Nam gọi là Cố Lễ) dạy tôi nhiều bài hát đạo.  Tôi mượn sách của cha Rangel về xem tự tìm hiểu, so sánh những gì tôi đang hát với những dấu nhạc ghi trong bài … Cứ thế tôi tìm hiểu rồi viết nhạc và thấy mọi người ưa chuộng những bản nhạc của tôi.

Cho đến năm 1950 khi cha Phạm Ngọc Chi thụ phong Giám Mục coi sóc địa phận Bùi Chu, ngài đã nhớ đến bài hát của tôi tặng ngài trước đây nên ngài đã gửi tôi sang học tại Âu Châu.  Tôi học khỏang 7 tháng tại Pontifical De Rome (Ý), rồi sau đó sang Ba Lê (Pháp), học ở trường Cesar Frank là một trường chuyên dạy về sáng tác.  Tôi học từ năm 1950 đến năm 1956 thì về Sàigòn.  Luận án của tôi là “La couleur Vietnamienne dans le Chant Grégorien” (Màu sắc nhạc Việt trong bình ca).  Trong thời gian học ở Ba Lê, tôi ở cùng một nhà với cha Kim Định.  Cha Kim Định đã giúp đỡ tôi rất nhiều, đã xây dựng ra tôi.  Cũng trong thời gian ấy, cha Kim Định thì tranh luận với các tư tưởng gia tây phương về triết học, còn tôi thì tranh luận với các nhạc sĩ tây phương về âm nhạc … nên cả hai chúng tôi đã thấm nhuần những điều sở học.

Chí Thành:  Hầu hết những bài của Nhạc Sư đều viết theo thể nhạc Việt.  Xin Nhạc Sư cho biết đã học nhạc Viêt ở đâu ?

Hải Linh:  Về vốn liếng nhạc Việt, tôi đã thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau:  tiên khởi là do Mẹ tôi dạy tôi khi tôi còn nhỏ vì hồi đó Mẹ tôi là một “bà quản” thuộc rất nhiều bài hát cổ xưa.  Mẹ tôi chuyên dạy cho các cô trong xứ đạo.  Các cô học hát được chia làm hai lọai khác nhau:  những cô hát và tiến hoa thì được gọi là “con hoa”; những cô chỉ hát mà không tiến hoa gọi là “học trò”.

Tôi sinh trưởng ở miền Bắc nên đã biết tất cả các hơi bắc từ Vãn, Vè, Than, Trống Quân, Cò Lả, Quan Họ, Chèo v.v … chẳng hạn những tiếng “hò dô ta, ơ dô ta” là tiếng hò trên sông Mã ở Thanh Hóa … Về lọai “Cổ Giáo Nhạc Vịêt” (Chant Paraliturgique) tôi cũng có đầy đủ.  Ngòai ra tôi cũng có thêm hai vốn đặc biệt khác nữa là Hy Lạp và Bình Ca (Chant Grégorien) của tây phương, do đó, hiểu thấu đáo nhạc Việt có những nét tinh túy độc đáo khác hẳn với nhạc Trung Hoa, Nhật Bản hay Chiêm Thành.

Chí Thành:  Xin Nhạc Sư cho biết những độc đáo của nhạc Việt.

Hải Linh:  Nhạc Việt dùng hệ thống ngũ cung.  Nhạc Trung Hoa từ nguyên thủy dựa trên hệ thống ngũ cung là:  Cung, Thông, Giốc, Chủy, Vũ.  Khi người Việt bắt đầu sang nghiên cứu hệ thống ngũ cung của người Trung Hoa vào thế kỷ XV là lúc âm nhạc Trung Hoa chịu ảnh hưởng trong mấy thế kỷ do người Mông Cổ thống trị và Ngũ Cung lúc bấy giờ là:  Hồ, Xự, Xang, Xế, Cống (thay vì Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ).

Chí Thành:  Nhiều người đã được biết hoặc nghe nói, Nhạc Sư có một lối đánh nhịp (điều khiển ban hợp ca) đặc biệt.  Xin Nhạc Sư cho biết sơ qua.

Hải LinhViệc khởi tấu rất quan trọng cũng y như việc phóng một phi thuyền vào không gian.  Cho được phóng một phi thuyền cần phải có những chuẩn bị đầy đủ và chính xác.  Điều khiển một ban hợp ca để tấu lên một bản nhạc cũng vậy.  Tôi đã áp dụng trong mấy chục năm nay và những ca viên lãnh hội được từng cử chỉ và được nhiều người công nhận.  Tây phương cũng có một số người chuyên về điều khiển hợp ca (Chef de Choeur) nổi tiếng như Pierre Koelin (Thụy Sĩ), Robert Wilson (ở Ohio, Hoa Kỳ) …

Chí Thành:  Dường như thế giới bên ngòai biết rất ít về việc làm của Nhạc Sư.  Nhạc Sư có chuơng trình xuất bản sách và nhạc thâu băng những tác phẩm của Nhạc Sư không ?

 

Hải Linh:  Chữ “thế giới bên ngòai” anh muốn ám chỉ người ngọai quốc ?

Chí Thành:  Dạ, thưa cả người ngọai quốc và cả cộng đồng Việt Nam nói chung.

(Nhạc Sư Hải Linh lấy cái điếu cày ra, vừa châm thuốc vừa tâm sự:  Tôi nghiện thuốc lào từ khi lên 10 tuổi !  Cái nghiện thuốc lào này nó khó bỏ lắm chứ không như thuốc lá.  Sau khi rít một hơi dài nghe “róc róc”, Nhạc Sư Hải Linh trầm giọng xuống và ưu tư).

Hải Linh:  Năm nay, tôi 67 tuổi.  Tuổi Thân, cùng tuổi với Đức Giáo Hòang.  Tuổi Thân bạc bẽo lắm:  tôi chỉ còn nấp bóng Đức Giáo Hòang để sống được ngày nào hay ngày đó thôi.  Việc anh hỏi thiết tưởng đó là việc rất cần phải làm và trở nên cấp bách.

Vấn đề tập các bản nhạc mới là nan giải vì thì giờ bên này rất là eo hẹp và mỗi người mỗi nơi … Tôi nghĩ rằng chỉ có cách là mỗi địa phương lấy chừng 5 người, trao bản nhạc với những chỉ dẫn cần thiết để họ tự luyện lấy với nhau.  Sau một thời gian thì tập hợp tất cả lại, tổng dượt rồi dành ra chừng một tháng trời chỉ có ăn rồi thâu băng.  Tập một trường ca “Cung Đàn Bạc Mệnh” cũng phải mất một năm.

Nói tóm lại, về vấn đề xuất bản cũng như tập hát và thâu băng, tôi rất cần những nhà “Mạnh Thường Quân”.  Đây là vấn đề chung của cả Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngọai …  Đối với những bạn yêu nghệ thuật, thời giờ không bó buộc nhiều … có thể hy sinh để Tôn Vinh Thiên Chúa, để Tán Tụng Quê Hương.

Tôi còn nhớ Anh Quốc là một cường quốc trên thế giới, thế mà trên lãnh vực ngọai giao, họ cũng đã chi rất nhiều tiền cho Dàn Nhạc, Ban Hợp Ca, Đòan Vũ v.v… đi lưu diễn khắp thế giới.

Chí Thành:  Chúng tôi xin thành thực cám ơn Nhạc Sư đã dành thì giờ để trả lời những câu hỏi của chúng tôi.  Trước khi dứt lời, với tư cách là một người thấu triệt về âm nhạc và vừa từ quốc nội ra, Nhac Sư có nhắn nhủ gì qua báo chí không ?

Hải Linh:  Đừng quên đồng bào ở quê nhà và hãy phát huy nhạc Việt Ngũ Cung và thơ Lục Bát là một kho tàng vô giá vô tận .




Sưu tầm & trình bầy: Nguyễn Hoa Cương